DAAC xin trân trọng gửi đến Quý Khách hàng những thông tin, chính sách mới nhất về thuế GTGT, thuế TNDN, ưu đãi thuế, chính sách thu lệ phí trước bạ,… 

1. Công văn số 4498/TCT-QLN ngày 23/10/2020 về không tính tiền chậm nộp

Công ty TNHH MTV Khai thác Công trình Thủy lợi Bình Thuận có hành vi khai sai dẫn đến thiếu và phát sinh chậm nộp đối với khoản lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ phải nộp ngân sách nhà nước năm 2018, ngày 11/10/2019 Cục Thuế tỉnh Bình Thuận đã ban hành Quyết định số 1819/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính, để truy thu đủ số tiền thuế khai thiếu tiền chậm nộp và xử phạt vi phạm hành chính; tuy nhiên ngày 19/10/2019, Công ty có văn bản đề nghị không tính tiền chậm nộp đối với khoản lợi nhuận sau thuế còn lại phải nộp tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, trường hợp nếu Công ty thuộc đối tượng được không tính tiền chậm nộp theo quy định tại Điều 34a Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính nêu trên thì không phải nộp tiền chậm nộp tính trên khoản lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ phải nộp ngân sách nhà nước năm 2018 nhưng không vượt quá số tiền ngân sách nhà nước chưa thanh toán. Thời điểm không tính tiền chậm nộp kể từ ngày Công ty phải nộp khoản lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ phải nộp ngân sách nhà nước năm 2018 (01/4/2019).

Trường hợp nếu cơ quan thuế đã tính tiền chậm nộp trên ứng dụng quản lý thuế tập trung (TMS) thì thực hiện điều chỉnh lại tiền chậm nộp cho người nộp thuế.

2. Công văn số 4517/TCT-CS ngày 23/10/2020 về chính sách thuế đối với chương trình hỗ trợ thuốc điều trị

Theo trình bày tại công văn của Công ty thì Công ty cổ phần dược liệu trung ương 2 và Công ty TNHH một thành viên dược liệu TW2 (gọi chung là “Phytopharma”) và Công ty TNHH Zuellig Pharma Việt Nam (Zuellig Việt Nam) có tham gia vào triển khai chương trình hỗ trợ thuốc miễn phí cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để điều trị cho bệnh nhân không thuộc khoản viện trợ Phi Chính phủ nước ngoài theo Thông tư số 31/2018/TT-BYT ngày 30/10/2018 của Bộ Y tế.

Các lô thuốc nhập khẩu và phân phối theo Chương trình không phải là hàng biếu, tặng cho Zuellig Việt Nam và Phytopharma, không phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Zuellig Việt Nam và Phytopharma chỉ đóng vai trò trung gian hỗ trợ thực hiện Chương trình. Zuellig Việt Nam và Phytopharma không thu tiền và không thu được lợi ích kinh tế nào.

– Về khấu trừ thuế GTGT: Thuế GTGT đầu vào của thuốc nhập khẩu theo Chương trình nêu trên không đủ điều kiện để kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo quy định tại khoản 5 Điều 14 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính và khoản 10 Điều 1 Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015 của Bộ Tài chính.

– Về hóa đơn,chứng từ lưu thông hàng hóa trên thị trường:

Trường hợp Zuellig Việt Nam và Phytopharma cần có hóa đơn để lưu thông hàng hóa tới người bệnh thì Zuellig Việt Nam và Phytopharma lập hóa đơn GTGT trên hóa đơn ghi rõ “Thuốc tài trợ, không thu tiền”, dòng thuế suất, số thuế GTGT không ghi và gạch bỏ.

– Về thuế TNDN: Công ty không phải kê khai thuế TNDN đối với hoạt động nêu trên nếu không nhận được bất cứ khoản thu nhập và lợi ích kinh tế nào liên quan đến việc thực hiện chương trình tài trợ này.

3. Công văn số 4518/TCT-CS ngày 23/10/2020 về chính sách thuế

– Ngày 2/6/2017, Công ty TNHH Green Farm Asia (bên đi thuê) đã kí hợp đồng thuê trại chăn nuôi của Công ty với thời hạn 15 năm, trong đó Công ty (bên cho thuê) không trực tiếp chăn nuôi heo như Quyết định chủ trương đầu tư đã được UBND tỉnh cấp mà chỉ xây dựng nhà xưởng chăn nuôi rồi cho thuê lại theo như đề nghị của bên đi thuê.

Căn cứ các quy định nêu trên, về nguyên tắc thu nhập của doanh nghiệp từ: trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng; thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng, chế biến nông sản, thủy sản ở địa bàn kinh tế xã hội khó khăn được hưởng thuế suất ưu đãi 10% trong suốt thời gian hoạt động.

Tuy nhiên, trường hợp dự án đầu tư không đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi đầu tư quy định tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư thì nhà đầu tư không được hưởng ưu đãi theo quy định tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, văn bản quyết định chủ trương đầu tư.

4. Công văn số 4554/TCT-DNL ngày 26/10/2020 về hướng dẫn thuế TNCN

Theo báo cáo của Cục Thuế TP Hà Nội, từ tháng 4/2020 trụ sở chính Tập đoàn Viettel thực hiện mô hình chi trả thu nhập tập trung cho người lao động làm việc trên địa bàn cả nước thay cho hình thức các chi nhánh, đơn vị hạch toán phụ thuộc Tập đoàn thực hiện chi trả thu nhập cho người lao động làm việc tại các địa phương. Với số lượng người lao động làm việc tại các chi nhánh, đơn vị phụ thuộc của Tập đoàn ở các địa phương rất lớn, để thuận lợi cho người nộp thuế trong việc thực hiện các thủ tục hành chính khi thực hiện quyết toán thuế, hoàn thuế TNCN đối với kỳ tính thuế từ năm 2019 trở về trước của người lao động làm việc tại Viettel trường hợp không ủy quyền quyết toán thuế qua cơ quan chi trả thu nhập, Tổng cục Thuế hướng dẫn như sau:

Đối với các hồ sơ quyết toán thuế, hoàn thuế TNCN của kỳ tính thuế từ năm 2019 trở về trước, người lao động đã đăng ký giảm trừ gia cảnh tại chi nhánh, đơn vị hạch toán phụ thuộc của Viettel tại các tỉnh, thành phố; chi nhánh, đơn vị hạch toán phụ thuộc Viettel đã thực hiện chi trả thu nhập cho người lao động thì Cục Thuế các tỉnh, thành phố nơi người lao động làm việc tại chi nhánh, đơn vị hạch toán phụ thuộc Viettel thực hiện tiếp nhận, xử lý hồ sơ theo quy định đối với trường hợp người lao động không ủy quyền quyết toán thuế cho cơ quan chi trả thu nhập.

Đối với kỳ tính thuế từ năm 2020: Chính phủ đã ban hành Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 hướng dẫn Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 và đang xây dựng thông tư hướng dẫn Luật, Nghị định Quản lý thuế. Khi Thông tư hướng dẫn Luật, Nghị định được ban hành thì thực hiện theo quy định tại Nghị định và hướng dẫn tại Thông tư.

5. Công văn số 4585/TCT- KK ngày 28/10/2020 về xử lý hồ sơ hoàn tiền sử dụng đất

– Tại điểm a khoản 3 Điều 17 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định trách nhiệm của cơ quan thuế trong việc tổ chức thu tiền sử dụng đất.

– Tại khoản 8 Điều 2 Nghị định 123/2017/NĐ-CP ngày 14/11/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước quy định trình tự, thủ tục hoàn trả hoặc khấu trừ tiền sử dụng đất đã nộp hoặc tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã trả vào nghĩa vụ tài chính của chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội.

– Tại Điều 4 Thông tư 139/2016/TT-BTC ngày 16/9/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; hoàn trả lại hoặc khấu trừ vào nghĩa vụ tài chính cho chủ đầu tư khi đầu tư xây dựng nhà ở xã hội và phương pháp xác định tiền sử dụng đất phải nộp khi người mua, thuê mua được phép bán lại nhà ở xã hội

Căn cứ vào các quy định nêu trên, trường hợp nếu dự án “Khu nhà ở xã hội phục vụ cho công nhân, người lao động của công ty TNHH In Điện tử Minh Đức” thuộc diện miễn tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều 9 Nghị định 100/2015/NĐ-CP, thì thẩm quyền quyết định việc khấu trừ hoặc hoàn trả lại tiền sử dụng đất đã nộp của chủ đầu tư theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 9 Nghị định 100/2015/NĐ-CP và Điều 4 Thông tư 139/2016/TT-BTC; Trình tự, thủ tục hoàn trả hoặc khấu trừ tiền sử dụng đất đã nộp của chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội thực hiện theo khoản 8 Điều 2 Nghị định 123/2017/NĐ-CP ngày 14/11/2017 của Chính phủ.

6. Công văn số 4278/TCT-CS ngày 09/10/2020 về chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp

Thu nhập của doanh nghiệp từ hoạt động chế biến nông sản, thủy sản tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định thì khoản thu nhập này được miễn thuế TNDN; trường hợp sản phẩm chỉ qua sơ chế thì không được ưu đãi thuế TNDN đối với thu nhập từ hoạt động chế biến nông sản, thủy sản.

Nếu quá trình chế biến đối với từng loại sản phẩm của Công ty TNHH chế biến thực phẩm bánh pía – lạp xưởng Tân Huê Viên có sử dụng nông sản chưa qua chế biến (nông sản thô), nông sản mới qua sơ chế thông thường và các nguyên liệu khác, trong đó tỷ lệ giá trị nguyên vật liệu đầu vào là các nông sản chưa qua chế biến và các nông sản mới qua sơ chế thông thường chiếm từ 30% giá thành sản xuất sản phẩm trở lên thì thu nhập từ hoạt động chế biến này của doanh nghiệp được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo điều kiện thực tế đáp ứng.

Về trường hợp doanh nghiệp đáp ứng nhiều điều kiện ưu đãi thuế TNDN thì doanh nghiệp được lựa chọn áp dụng mức ưu đãi thuế có lợi nhất tương ứng với một điều kiện ưu đãi, Bộ Tài chính đã có công văn số 3091/BTC-TCT ngày 08/3/2017 gửi Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (photo các công văn kèm theo).

7. Công văn số 4342/TCT-CS ngày 15/10/2020 về ưu đãi thuế TNDN của dự án đầu tư mới của doanh nghiệp thành lập trong khu công nghiệp

Trường hợp dự án đầu tư mới của doanh nghiệp thành lập trong khu công nghiệp trên địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn thì dự án đầu tư mới của doanh nghiệp đáp ứng đồng thời hai điều kiện được hưởng ưu đãi là ưu đãi theo điều kiện địa bàn khu công nghiệp được miễn thuế 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo và ưu đãi theo địa bàn kinh tế xã hội khó khăn là thuế suất ưu đãi 17% trong thời gian 10 năm, miễn thuế 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo. Doanh nghiệp được lựa chọn 1 trong 2 mức ưu đãi trên để áp dụng xuyên suốt quá trình ưu đãi.

Trường hợp dự án đầu tư mới của doanh nghiệp chỉ thành lập trong KCN không thuộc địa bàn ưu đãi đầu tư thì được hưởng ưu đãi thuế theo mức áp dụng cho dự án đầu tư tại KCN theo quy định của pháp luật thuế TNDN là miễn thuế 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo, không được áp dụng thuế suất thuế TNDN ưu đãi 17%.

Về việc xác định ưu đãi thuế TNDN đối với dự án đầu tư mở rộng tại địa bàn khu công nghiệp, Tổng cục Thuế đã có công văn số 292/TCT-DNL ngày 23/01/2017 trả lời Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc (bản photocopy công văn đính kèm).

8. Công văn số 4433/TCT-CS ngày 21/10/2020 về chính sách thuế GTGT đối với hoạt động chuyển nhượng dự án đầu tư

Công ty TNHH Bayer Việt Nam chuyển nhượng Dự án đầu tư “nhà máy sản xuất thuốc thú y – thủy sản của Công ty TNHH Bayer Việt Nam” với mục tiêu vừa đầu tư vào sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT, vừa đầu tư vào sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT cho một pháp nhân khác tại Việt Nam; Dự án đáp ứng điều kiện về dự án đầu tư theo quy định của Luật đầu tư, Bên nhận chuyển nhượng tiếp tục thực hiện mà không thay đổi mục tiêu đầu tư.

Trường hợp Công ty TNHH Bayer Việt Nam không tách riêng được phần dự án đầu tư sản xuất sản phẩm chịu thuế GTGT với phần dự án đầu tư để sản xuất sản phẩm không chịu thuế GTGT thì Công ty phải kê khai, nộp thuế GTGT đối với hoạt động chuyển nhượng dự án đầu tư với thuế suất 10%.

9. Công văn số 4637/TCT-KK ngày 30/10/2020 về xử lý đề nghị hoàn thuế GTGT

Cục Thuế tỉnh Trà Vinh không tiếp nhận được hồ sơ đề nghị hoàn thuế điện tử của Công ty TNHH JANAKUASA Việt Nam do có số tài khoản tiền gửi (0127000100000541384) tại Ngân hàng ICBC – CN Hà Nội (19 ký tự), vượt quá số ký tự của hệ thống đăng ký thuế (TMS) cho phép (18 ký tự). Trong khi ứng dụng công nghệ thông tin chưa đáp ứng, Tổng cục Thuế đề nghị:

(1) Cục Thuế tỉnh Trà Vinh hướng dẫn Công ty TNHH JANAKUASA Việt Nam gửi hồ sơ đề nghị hoàn thuế giấy, ghi đúng thông tin tài khoản NNT đã đăng ký với cơ quan thuế.

(2) Tại chức năng Đề nghị hoàn thuế (6.1): Nhập thông tin tài khoản ngân hàng đúng của Công ty TNHH JANAKUASA Việt Nam (19 ký tự) và thực hiện các bước xử lý theo Quy trình hoàn thuế.

(3) Trường hợp kết quả giám sát của hệ thống TMS là “Không đạt” đối với tiêu chí “Thông tin về tài khoản ngân hàng” thì đề nghị Cục Thuế tỉnh Trà Vinh liên hệ với Tổng cục Thuế (Vụ KK-KTT) để được hỗ trợ. Cục Thuế chịu trách nhiệm về hồ sơ đủ điều kiện hoàn thuế theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng và pháp luật về quản lý thuế.

10. Công văn số 4648/TCT-CS ngày 30/10/2020 về xác định nước máy thương phẩm là sản phẩm công nghiệp hay sản phẩm tài nguyên để áp giá tính thuế tài nguyên

Đối với khai thác nước thiên nhiên để sản xuất kinh doanh thì thực hiện kê khai, nộp thuế tài nguyên như sau:

– Giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng nhưng không được thấp hơn giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh quy định. Trường hợp không xác định được giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên thì giá tính thuế tài nguyên là giá do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định.

– Sản lượng tài nguyên tính thuế là sản lượng nước thiên nhiên khai thác được xác định bằng mét khối (m3) hoặc lít (l) theo hệ thống đo đếm đạt tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam. Người nộp thuế phải lắp đặt thiết bị đo đếm sản lượng nước thiên nhiên khai thác để làm căn cứ tính thuế.

Mức thuế suất được xác định theo nhóm, loại tài nguyên khai thác và mục đích khai thác theo quy định tại Mục V Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên ban hành kèm theo Nghị quyết số 1084/2015 /UBTVQH13. Trường hợp Công ty khai thác nước thiên nhiên để sản xuất nước sạch thì thuế suất là 1% đối với nước mặt và 5% đối với nước dưới đất.

Đề nghị Công ty TNHH MTV Cấp nước Tiền Giang căn cứ các quy định nêu trên và tình hình khai thác thực tế để kê khai nộp thuế tài nguyên theo đúng quy định. Đối với đề nghị xác định nước máy thương phẩm là sản phẩm công nghiệp hay sản phẩm tài nguyên không thuộc chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tài chính, do vậy, đề nghị Công ty xin ý kiến Bộ quản lý nhà nước chuyên ngành đề được hướng dẫn theo đúng thẩm quyền.

11. Công văn số 4677/TCT-DNL ngày 03/11/2020 về kê khai khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng nhập khẩu phụ tùng, vật tư, thiết bị thuê

Trường hợp VNA thuê thiết bị, phụ tùng vật tư máy bay theo hình thức thuê phụ tùng vật tư, thiết bị quay vòng của đối tác nước ngoài (theo hợp đồng Pooling) để phục vụ cho hoạt động kinh doanh vận chuyển hàng hóa, hành khách; khi nhận phụ tùng vật tư, thiết bị từ đối tác nước ngoài vào Việt Nam phải làm thủ tục nhập khẩu và phát sinh số thuế GTGT phải nộp của hàng nhập khẩu do cơ quan hải quan xác định; VNA đã ủy thác cho Công ty XNK Hàng Không (Airimex) làm thủ tục nhập khẩu và nộp vào ngân sách nhà nước số tiền thuế GTGT ở khâu nhập khẩu thì VNA được kê khai, khấu trừ theo quy định đối với số thuế GTGT đầu vào trên hóa đơn do Airimex xuất trả cho VNA.

Trường hợp VNA có phát sinh dịch vụ xuất khẩu là vận tải quốc tế thì được hoàn thuế theo quy định nếu đáp ứng các điều kiện khấu trừ hoàn thuế đầu vào của dịch vụ xuất khẩu theo đúng chế độ quy định.

12. Công văn số 4703/TCT-CS ngày 04/11/2020 về chính sách thuế TNDN

Trường hợp Công ty đáp ứng các điều kiện tại Giấy chứng nhận đầu tư và đang được hưởng ưu đãi thuế TNDN (bao gồm mức thuế suất ưu đãi thời gian miễn thuế, giảm thuế) theo quy định tại Giấy chứng nhận đầu tư đã cấp thì tiếp tục được hưởng các mức ưu đãi này cho thời gian còn lại.

Trường hợp Công ty đang hoạt động có hoạt động đầu tư mở rộng thì phần thu nhập tăng thêm từ hoạt động đầu tư mở rộng được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo điều kiện thực tế Công ty đáp ứng.

Đối với thu nhập từ hoạt động chế biến nông sản, thủy sản nếu hoạt động này đáp ứng điều kiện theo Thông tư số 96/2015/TT-BTC quy định ưu đãi thuế đối với khoản thu nhập từ chế biến nông sản, thủy sản thì được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo quy định.

Đối với thu nhập từ việc bổ sung thêm ngành nghề kinh doanh: “cho thuê lại văn phòng, nhà kho và nhà xưởng dư thừa”, Bộ Tài chính đã có công văn số 17008/BTC-CST ngày 17/11/2015 gửi UBND tỉnh Hà Tĩnh hướng dẫn trường hợp doanh nghiệp đang hoạt động và được hưởng ưu đãi thuế TNDN có bổ sung ngành nghề kinh doanh mà không tăng vốn, không thực hiện đầu tư mở rộng thì phần thu nhập từ ngành nghề bổ sung không được hưởng ưu đãi thuế TNDN (công văn phô tô kèm theo).

Trong cùng một thời gian, nếu doanh nghiệp được hưởng nhiều mức ưu đãi thuế khác nhau đối với cùng một khoản thu nhập thì doanh nghiệp được lựa chọn áp dụng mức ưu đãi có lợi nhất theo khoản 12 Điều 1 Luật số 32/2013/QH13 quy định.

13. Công văn số 4751/TCT-CS ngày 06/11/2020 về giải đáp vướng mắc chính sách thu lệ phí trước bạ

Theo trình bày của Cục Thuế thành phố Hà Nội tại Công văn số 90216/CT-QLĐ ngày 12/10/2020, Công ty liên danh TNHH Phát triển đô thị mới An Khánh thực hiện dự án Khu đô thị mới Bắc An Khánh, Công ty được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 154 lô đất theo Quyết định số 4379/QĐ-UBND ngày 11/8/2016 của UBND thành phố Hà Nội về việc phê duyệt điều chỉnh tổng thể quy hoạch chi tiết Khu đô thị mới Bắc An Khánh, tỷ lệ 1/500.

Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp Công ty liên danh TNHH Phát triển đô thị mới An Khánh đăng ký quyền sử dụng 154 lô đất nêu trên theo quy định của pháp luật để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, đầu tư xây dựng nhà để chuyển nhượng thì Công ty được miễn lệ phí trước bạ. Trường hợp Công ty đăng ký quyền sử dụng 154 lô đất nêu trên để cho thuê hoặc tự sử dụng thì Công ty phải nộp lệ phí trước bạ theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 1 Nghị định số 20/2019/NĐ-CP của Chính phủ.

DAAC rất mong những thông tin trên đây sẽ giúp ích cho Quý Khách hàng trong việc vận hành Doanh nghiệp và tối ưu hóa lợi ích mà các chính sách Thuế mang lại.

DAAC kính chúc Quý Khách hàng thật nhiều sức khỏe và thành công trong cuộc sống.

Trân trọng!