DAAC xin trân trọng gửi đến Quý Khách hàng những thông tin, chính sách mới nhất về thuế GTGT, Thuế TNCN, Thuế TNDN, Thuế Nhà Thầu, Hoàn thuế GTGT… Các văn bản hướng dẫn tổ chức thực hiện Nghị định 68/2020/ND-CP, hoàn thuế khi sát nhập doanh nghiệp, lương hưu và bảo hiểm trong tháng 07-08/2020 do ảnh hưởng của Covid, thuế nhà thầu đối với thiết bị nhập khẩu, mức thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay…

1. Công văn số 2621/TCT-KK ngày 26/06/2020 về kê khai thuế trong thời gian tạm ngừng kinh doanh

Trường hợp người nộp thuế trong thời gian tạm ngừng kinh doanh phát sinh nghĩa vụ đối với những hoạt động quy định tại Khoản 3 Điều 200 Luật doanh nghiệp 2014 thì phải nộp hồ sơ khai thuế của thời gian tạm ngừng kinh doanh theo đúng quy định.

Trường hợp người nộp thuế trong thời gian tạm ngừng kinh doanh phát sinh nghĩa vụ đối với những hoạt động không được quy định tại Khoản 3 Điều 200 Luật doanh nghiệp 2014 thì người nộp thuế phải thông báo với cơ quan nơi đã đăng ký tạm ngừng kinh doanh về việc tiếp tục kinh doanh trở lại trước thời hạn và phải thực hiện đầy đủ các quy định về khai, nộp thuế theo quy định.

Từ ngày 01/07/2020, việc quản lý thuế đối với người nộp thuế trong thời gian tạm ngừng hoạt động, kinh doanh thực hiện theo quy định tại Điều 37 Luật quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/06/2019. 

Khi có kế hoạch tạm ngừng hoạt động, người nộp thuế phải thông báo bằng văn bản đến phòng đăng ký kinh doanh. Hồ sơ bao gồm Quyết định tạm ngừng hoạt động kinh doanh, biên bản họp (nếu là Công ty Cổ Phần và Công ty TNHH 2 TV trở lên); thông báo tạm ngừng hoạt động kinh doanh, giấy ủy quyền và bản sao giấy chứng thực cá nhân người thực hiện nộp hồ sơ.

2. Công văn số 2668/TCT-CS ngày 29/06/2020 về chính sách thuế GTGT đối với doanh nghiệp khi chuyển đổi thành doanh nghiệp chế xuất

– Về số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết của doanh nghiệp khi chuyển đổi thành doanh nghiệp chế xuất (DNCX).

Tại khoản 7 Điều 1 Luật Thuế GTGT số 31/2013/QH13 sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 13 Luật Thuế GTGT số 13/2008/QH12 quy định các trường hợp hoàn thuế GTGT như sau:

“Điều 13. Các trường hợp hoàn thuế

…3. Cơ sở tính doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế được hoàn thuế giá trị gia tăng khi chuyển đổi sở hữu, chuyển đổi doanh nghiệp, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động có số thuế giá trị gia tăng nộp thừa hoặc số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết.”

Đề nghị Cục Thuế căn cứ các quy định nêu trên và tình hình thực tế để xử lý theo quy định.

– Về số thuế GTGT đã nộp ở khâu nhập khẩu.

  1. a) Tại khoản 13 Điều 1 Luật Quản lý thuế số 21/2012 sửa đổi, bổ sung Điều 47 Luật Quản lý thuế số 78/2006 quy định số tiền thuế nộp thừa như sau:

“Điều 47. Xử lý số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa

  1. Người nộp thuế có số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đã nộp lớn hơn số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt phải nộp đối với từng loại thuế trong thời hạn mười năm, kể từ ngày nộp tiền vào ngân sách nhà nước thì được bù trừ số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa với số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt còn nợ, kể cả việc bù trừ giữa các loại thuế với nhau; hoặc trừ vào số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt phải nộp của lần nộp thuế tiếp theo; hoặc hoàn trả số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa khi người nộp thuế không còn nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt.”
  2. b) Tại khoản 64 Điều 1 Thông tư số 39/2018/TT-BTC ngày 20/04/2018 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Điều 131 Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/03/2015 của Bộ Tài chính như sau:

“64. Điều 131 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 131. Thủ tục xử lý tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa

  1. Tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được xác định là nộp thừa theo quy định tại Điều 47 Luật Quản lý thuế ngày 29 tháng 11 năm 2006 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 13 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế ngày 20 tháng 11 năm 2012; điểm a khoản 1 Điều 29 Nghị định số 83/2013/NĐ-CP.”

Trường hợp doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ và không hưởng chính sách doanh nghiệp chế xuất thực hiện chuyển đổi sang doanh nghiệp chế xuất thì kể từ thời điểm doanh nghiệp được hưởng chính sách doanh nghiệp chế xuất theo quy định của pháp luật (doanh nghiệp chế xuất được quy định trong Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc trong văn bản của cơ quan đăng ký đầu tư có thẩm quyền trong trường hợp không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư), nếu doanh nghiệp đã nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu thì đề nghị doanh nghiệp chế xuất thực hiện theo quy định được trích dẫn nêu trên và pháp luật có liên quan.

3. Công văn số 2701/TCT-KK ngày 01/07/2020 về hoàn thuế GTGT khi sáp nhập doanh nghiệp

Khoản 3 Điều 13 Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) số 13/2008/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 31/2013/QH13 quy định các trường hợp hoàn thuế:

“3. Cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế được hoàn thuế giá trị gia tăng khi chuyển đổi sở hữu, chuyển đổi doanh nghiệp, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động có số thuế giá trị gia tăng nộp thừa hoặc số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết.”;

– Khoản 3, 5 Điều 18 Thông tư số 219/TT-BTC ngày 31/12/2013 đã được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 Thông tư số 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn các trường hợp hoàn thuế;

– Khoản 2 Điều 42 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về trường hợp tổ chức lại doanh nghiệp:

“Điều 42. Hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trong trường hợp tổ chức lại doanh nghiệp

“2. Doanh nghiệp bị tách, bị hợp nhất, bị sáp nhập có trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trước khi tách, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp; nếu chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế thì doanh nghiệp bị tách và các doanh nghiệp mới được thành lập từ doanh nghiệp bị tách, doanh nghiệp hợp nhất, doanh nghiệp nhận sáp nhập có trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế.”.

4. Công văn số 2697/TCT-KK ngày 01/07/2020 về khai thuế đối với địa điểm kinh doanh của DN khác tỉnh với đơn vị chủ quản

Theo hướng dẫn tại công văn số 3200/TCT-KK ngày 12/8/2019 của Tổng cục Thuế về quản lý thuế đối với địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp khác tỉnh với nơi đơn vị chủ quản đóng trụ sở và công văn số 405/TCT-KK ngày 4/2/2020 của Tổng cục Thuế về khai thuế, sử dụng hóa đơn đối với địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp khác tỉnh với đơn vị chủ quản.

Trường hợp Công ty và khách hàng có hợp đồng thỏa thuận sử dụng tên, địa chỉ và mã số thuế của Công ty trên hóa đơn, chứng từ của hàng hóa, dịch vụ mua vào, bán ra liên quan trực tiếp đến địa điểm kinh doanh, thì:

– Nếu bên bán chưa lập hóa đơn, chứng từ thì hai bên bổ sung phụ lục hợp đồng để ghi thông tin theo đúng nội dung hướng dẫn lập hóa đơn tại công văn số 405/TCT-KK ngày 4/2/2020 của Tổng cục Thuế.

– Nếu bên bán đã lập hóa đơn, chứng từ theo tên, địa chỉ và mã số thuế của doanh nghiệp thì doanh nghiệp tự xác định các hóa đơn, chứng từ phục vụ Cho hoạt động của địa điểm kinh doanh để khai thuế cho địa điểm kinh doanh.

Từ ngày 1/7/2020, đề nghị Công ty thực hiện theo quy định Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật.

5. Công văn 2453/BHXH-TCKT về chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp tháng 8,9/2020 trong thời gian tiếp tục thực hiện biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 do Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành

Tiếp theo Công văn số 2388/BHXH-TCKT ngày 28/7/2020 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam về việc chi trả lương hưu, trợ cấp Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) hàng tháng trong thời gian tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19. Để công tác chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH, BHTN cho người hưởng được đầy đủ, kịp thời và đảm bảo an toàn, phòng, chống dịch theo đúng chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, BHXH Việt Nam đề nghị Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam, BHXH các tỉnh, thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế (Sau đây gọi là BHXH tỉnh) thực hiện bổ sung một số nội dung sau:

– Chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH tháng 8 và tháng 9/2020 vào cùng một kỳ chi trả.

– Cơ quan bưu điện xây dựng các phương án tổ chức chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH, BHTN cho người hưởng nhận bằng tiền mặt đảm bảo an toàn, không được tập trung đông người theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

6. Công điện 06/CĐ-TCT năm 2020 về thực hiện áp dụng mức thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay đến hết ngày 31/12/2020 nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp vận tải hàng không trong giai đoạn hiện nay do Tổng cục Thuế ban hành

Ngày 27/7/2020, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 979/2020/UBTVQH14 quy định mức thuế Bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay bằng 2.100 đồng/lít có hiệu lực kể từ ngày 01/8/2020 đến hết ngày 31/12/2020.

Tổng cục Thuế yêu cầu Cục Thuế thông báo cho các đơn vị kinh doanh mặt hàng nhiên liệu bay trên địa bàn biết để kịp thời triển khai thực hiện áp dụng mức thuế Bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay theo quy định tại Nghị quyết số 979/2020/UBTVQH14 nêu trên nhằm tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp vận tải hàng không trong giai đoạn hiện nay.

7. Công văn số 2972/TCT-CS ngày 24/7/2020 về chính sách thuế nhà thầu đối với dây chuyền thiết bị nhập khẩu

Trường hợp Công ty TNHH Sambang Eng -Hàn Quốc ký hợp đồng với Công ty TNHH Pavonine Vina để cung cấp dây chuyền máy móc thiết bị kèm theo các dịch vụ được thực hiện tại Việt Nam như lắp đặt, vận hành, chạy thử, bảo hành và phát sinh thu nhập tại Việt Nam thì Công ty Sambang Eng thuộc đối tượng nộp thuế nhà thầu (thuế GTGT, thuế TNDN) tại Việt Nam. Trường hợp hợp đồng (hoặc Phụ lục hợp đồng) có tách được giá trị lắp đặt nhưng không tách các giá trị dịch vụ khác như vận hành, kiểm tra chạy thử hoặc không thể hiện các dịch vụ này bao gồm trong giá trị lắp đặt), bảo hành thì dịch vụ lắp đặt áp dụng tỷ lệ (%) tính thuế GTGT, thuế TNDN là 5% giá trị còn lại của hợp đồng (bao gồm giá trị máy móc thiết bị và giá trị các dịch vụ khác đi kèm chưa được tách riêng) áp dụng tỷ lệ % để tính thuế GTGT là 3% tỷ lệ (%) để tính thuế TNDN là 2% theo quy định tại điểm b.2 khoản 2 Điều 12, điểm b.2 khoản 2 Điều 13 Thông tư số 103/2014/TT-BTC nêu trên.

Căn cứ Điều 30 Luật Quản lý thuế, Công ty Pavonine Vina có trách nhiệm tự kê khai, tự tính số thuế nhà thầu phải nộp thay cho nhà thầu nước ngoài. Ngoài ra, đề nghị Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu căn cứ tài liệu, hồ sơ và phối hợp với doanh nghiệp kiểm tra, làm rõ giá trị máy móc thiết bị trên Tờ khai khai hải quan để nộp thuế khâu nhập khẩu và tổng giá trị hợp đồng có sự chênh lệch hay không, từ đó xác định doanh thu tính thuế GTGT, thuế TNDN và hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế nhà thầu theo đúng quy định của pháp luật.

8. Công văn số 3001/TCT-CS ngày 28/7/2020 về chính sách thuế

Theo trình bày tại công văn số 1795/CT-TTKT ngày 6/3/2020 của Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc và Hợp đồng số 01/2016 chuyển nhượng tài sản gắn liền với đất của Công ty TNHH Power Logics Vina và Công ty TNHH Top Intercube Vina thì Công ty TNHH Top Intercube Vina chỉ nhận chuyển nhượng một phần nhà xưởng và cơ sở hạ tầng trên diện tích đất 802m2 (không bao gồm máy móc thiết bị). Tại hồ sơ không nêu cụ thể về thực tế hoạt động Công ty TNHH Power Logics Vina cũng như Công ty TNHH Top Intercube Vina. Do đó, đề nghị Cục Thuế làm rõ mối quan hệ về chủ sở hữu giữa hai công ty này, chức năng, ngành nghề hoạt động của các bên, hoạt động đầu tư máy móc, thiết bị thực tế của Công ty TNHH Top Intercube Vina để có cơ sở xác định trường hợp này là dự án hình thành từ việc chuyển đổi sở hữu hay dự án đầu tư mới theo quy định. Trường hợp nếu Công ty TNHH Top Intercube Vina có nhận chuyển nhượng một phần nhà xưởng (không bao gồm máy móc thiết bị), nhưng vẫn kế thừa tài sản, địa điểm ngành nghề kinh doanh của Công ty TNHH Power Logics Vina thì Công ty TNHH Top Intercube Vina không đủ điều kiện được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo diện dự án đầu tư mới quy định tại Khoản 5 Điều 10 Thông tư số 96/2015/TT-BTC.

9. Công văn số 3002/TCT-CS ngày 28/7/2020 về chính sách thuế TNDN đối với đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực y tế, giáo dục.

Ngày 28/11/2017, Văn phòng Chính phủ có công văn số 551/TB-VPCP thông báo ý kiến kết luận của Lãnh đạo Chính phủ: “1. Thuế đối với đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện đúng quy định của pháp luật về thuế”.

Căn cứ các quy định và công văn số 511/TB-VPCP nêu trên, về nguyên tắc đơn vị sự nghiệp, tổ chức khác không phải là doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam có hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế TNDN mà các đơn vị này hạch toán được doanh thu nhưng không xác định được chi phí, thu nhập của hoạt động kinh doanh thì kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tính theo tỷ lệ % trên doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ.

10. Công văn số 3007/TCT-CS ngày 28/7/2020 về chính sách thuế TNDN

Thu nhập của doanh nghiệp từ hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng nông sản, thủy sản nếu phát sinh tại địa bàn KTXH đặc biệt khó khăn được miễn thuế TNDN, nếu phát sinh tại địa bàn KTXH khó khăn được áp dụng thuế suất 10%, nếu phát sinh tại địa bàn KTXH không thuộc các địa bàn trên được áp dụng thuế suất 15%; Hoạt động sản xuất giống thủy sản được áp dụng thuế suất thuế TNDN 10% nếu đáp ứng điều kiện của hoạt động sản xuất, nhân và lai tạo giống cây trồng, vật nuôi theo quy định tại pháp luật về thủy sản và pháp luật về giống thủy sản.

Đề nghị Cục Thuế tỉnh Bạc Liêu căn cứ các quy định nêu trên, tình hình thực tế tại doanh nghiệp và liên hệ với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để xác định hoạt động mua tôm về ép đẻ ấu trùng và bán ấu trùng tôm của doanh nghiệp có đáp ứng điều kiện của hoạt động nhân và lai tạo giống trong cơ sở sản xuất giống thủy sản theo quy định của pháp luật về thủy sản và pháp luật về giống thủy sản để xác định ưu đãi thuế TNDN đối với hoạt động nhân và lai tạo giống cây trồng, vật nuôi hoặc có thuộc (mã ngành 03214 – sản xuất giống thủy sản biển; mã ngành 03224 – sản xuất giống thủy sản nội địa) để xác định ưu đãi thuế TNDN đối với hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản, thủy sản theo đúng quy định pháp luật./.

11. Công văn số 3026/TCT-KK ngày 29/7/2020 về kê khai và nộp thuế nhà thầu

Nhà thầu Sharp Energy Solutions Solutions Corporation (sau đây được gọi là Nhà thầu SESJ) là nhà thầu thực hiện dự án Nhà máy điện mặt trời TTC Hàm Phú 2 Công suất 49MWP tại Bình Thuận do Công ty cổ phần Thủy điện Gia Lai là chủ đầu tư. Trường hợp Nhà thầu không áp dụng chế độ kế toán Việt Nam do đó không đáp ứng được một trong các điều kiện nêu tại Điều 8 Mục 2 Chương II Thông tư số 103/2014/TT-BTC thì Bên Việt Nam khấu trừ và nộp thuế thay cho Nhà thầu nước ngoài và nộp hồ sơ khai thuế, hồ sơ khai quyết toán thuế cho Cục thuế hoặc Chi cục Thuế do Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Bình Thuận – địa phương nơi diễn ra hoạt động xây dựng, lắp đặt quy định.

Trường hợp Công ty cổ phần Thủy điện Gia Lai (sau đây được gọi là Chủ đầu tư) đã khấu trừ và kê khai nộp thuế thay Nhà thầu SESJ tại Cơ quan thuế quản lý của Chủ đầu tư là chưa đúng theo quy định tại Khoản 3, Điều 20 Thông tư số 156/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính. Do đó, đề nghị Cục Thuế hướng dẫn Chủ đầu tư thực hiện theo quy định của pháp luật.

Đối với số thuế Chủ đầu tư đã nộp thay Nhà thầu SESJ tại Cơ quan thuế quản lý của Chủ đầu tư được xử lý theo quy định tại Điều 33 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính.

12. Công văn số 2765/TCT-DNL ngày 07/07/2020 Về thời điểm tính thuế TNDN đối với thu nhập từ đầu tư ra nước ngoài

Tại Khoản 1, Điều 1 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế thu nhập doanh nghiệp quy định:

“…Doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài có thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại nước ngoài, thực hiện kê khai và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành của Việt Nam”

Tại Khoản 1 Điều 65 Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 quy định về chuyển lợi nhuận về nước:

“Điều 65. Chuyển lợi nhuận về nước

  1. Trừ trường hợp sử dụng lợi nhuận để đầu tư ở nước ngoài theo quy định tại Điều 66 của Luật này, trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày có báo cáo quyết toán thuế hoặc văn bản có giá trị pháp lý tương đương theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư, nhà đầu tư phải chuyển toàn bộ lợi nhuận thu được và các khoản thu nhập khác từ đầu tư ở nước ngoài về Việt Nam.
  2. Trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này mà chưa chuyển lợi nhuận và các khoản thu nhập khác về Việt Nam, nhà đầu tư phải có văn bản báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Thời hạn chuyển lợi nhuận về nước được gia hạn không quá hai lần, mỗi lần không quá 06 tháng và phải được Bộ Kế hoạch và Đầu tư chấp thuận bằng văn bản.”

13. Công văn số 2756/TCT-CS ngày 07/07/2020 Về thuế thu nhập doanh nghiệp

Số thuế thu nhập doanh nghiệp phát sinh thực tế tại các địa phương trong thời gian hưởng ưu đãi sẽ được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế tính tiếng tại địa phương đó. Trường hợp doanh nghiệp có luân chuyển hàng hóa giữa các chi nhánh hạch toán phụ thuộc để tiếp nối chu trình sản xuất của doanh nghiệp thì doanh nghiệp phải tính riêng thu nhập chịu thuế của chi nhánh được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, trong đó doanh thu để tính thuế không bao gồm doanh thu luân chuyển nội bộ của doanh nghiệp, việc ghi nhận chi phí được trừ phải tương ứng với doanh thu tính thuế.

Trong cùng kỳ tính thuế, doanh nghiệp có phát sinh hoạt động kinh doanh bị lỗ, hoạt động kinh doanh có thu nhập thì việc bù trừ vào thu nhập chịu thuế của hoạt động có thu nhập thực hiện theo hướng dẫn tại Khoản 9 Điều 18 thông tư Số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính nêu trên.

14. Công văn số 2835/TCT-TTKT ngày 14/07/2020 Về hướng dẫn tổ chức thực hiện Nghị định số 68/2020/NĐ-CP

1/ Đối với kỳ quyết toán thuế năm 2019:

Nghị định số 68/2020/NĐ-CP quy định: “1. Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và áp dụng từ kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2019.”

– Như vậy, đối với các doanh nghiệp đã kê khai quyết toán thuế năm 2019 theo kỳ tính thuế đến hạn trước ngày 31/3/2020 thì thực hiện khai bổ sung hồ sơ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) theo quy định tại Nghị định số 68/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 8 Nghị định số 20/2017/NĐ-CP.

– Đối với các doanh nghiệp chưa đến kỳ kê khai quyết toán thuế năm 2019 thì thực hiện theo quy định sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 68/2020/NĐ-CP.

2/ Đối với việc xử lý hồi tố cho kỳ tính thuế TNDN năm 2017, 2018:

a/ Về phạm vi áp dụng:

Việc xử lý hồi tố chi phí lãi vay khống chế theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Nghị định số 20/2017/NĐ-CP cho các năm 2017, 2018 chỉ áp dụng đối với quy định tại điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định số 20/2017/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Điều 1 Nghị định số 68/2020/NĐ-CP, cụ thể:

– Nâng ngưỡng khống chế chi phí lãi vay từ 20% lên 30%;

– Áp dụng phương pháp tính chi phí lãi vay thuần (lãi đi vay trừ (-) lãi tiền gửi, lãi cho vay);

– Không áp dụng hồi tố đối với quy định sửa đổi, bổ sung tại điểm (b) (chuyển tiếp chi phí) và (c) (mở rộng đối tượng miễn áp dụng) tại Nghị định số 68/2020/NĐ-CP cho các năm 2017, 2018.

b/ Về việc thực hiện bù trừ số thuế TNDN đã nộp trong các năm 2017 và 2018:

Trường hợp áp dụng tính toán lại phạm vi theo quy định tại Nghị định số 68/2020/NĐ-CP, nếu số thuế TNDN giảm thì sẽ được giảm số tiền chậm nộp tương ứng (nếu có), cụ thể:

– Trường hợp chưa qua thanh tra, kiểm tra:

Người nộp thuế thực hiện bù trừ phần chênh lệch số tiền thuế TNDN và tiền chậm nộp tương ứng vào số thuế TNDN năm 2020. Nếu năm 2020 không đủ bù trừ hết thì được bù trừ vào thuế TNDN phải nộp 05 năm tiếp theo kể từ năm 2020. Kết thúc thời hạn trên, không xử lý số thuế TNDN còn lại chưa bù trừ hết.

– Trường hợp đã thanh tra, kiểm tra và đã có kết luận, quyết định xử lý:

Người nộp thuế đề nghị Cục thuế, Chi Cục thuế quản lý trực tiếp xác định lại số thuế TNDN phải nộp. Căn cứ đề nghị của người nộp thuế; các hồ sơ liên quan, bao gồm tài liệu của doanh nghiệp và tài liệu, biên bản của Đoàn thanh tra, kiểm tra, cơ quan thuế quản lý trực tiếp xác định lại số thuế TNDN phải nộp, tiền chậm nộp tương ứng để thực hiện bù trừ phần chênh lệch vào số thuế TNDN năm 2020.

+ Trường hợp cần thiết, cơ quan thuế quản lý trực tiếp phối hợp với các Đoàn thanh tra, kiểm tra rà soát, xác định số liệu của người nộp thuế tại trụ sở cơ quan thuế.

+ Tương tự trường hợp chưa qua thanh tra, kiểm tra, nếu năm 2020 không đủ bù trừ hết thì được bù trừ vào thuế TNDN phải nộp 05 năm tiếp theo kể từ năm 2020. Kết thúc thời hạn trên, không xử lý số thuế TNDN còn lại chưa bù trừ hết.

c/ Về địa điểm, hình thức thực hiện:

– Việc xác định lại số thuế phải nộp được thực hiện tại trụ sở cơ quan quản lý thuế, không thực hiện thanh tra, kiểm tra lại tại trụ sở người nộp thuế; không thực hiện điều chỉnh lại kết luận và quyết định thanh tra, kiểm tra năm 2017, 2018.

– Trường hợp đã xử phạt vi phạm hành chính về thuế hoặc đang giải quyết theo trình tự khiếu nại thì không điều chỉnh lại số tiền phạt vi phạm hành chính về thuế.

 

DAAC rất mong những thông tin trên đây sẽ giúp ích cho Quý Khách hàng trong việc vận hành Doanh nghiệp và tối ưu hóa lợi ích mà các chính sách Thuế mang lại.

DAAC kính chúc Quý Khách hàng thật nhiều sức khỏe và thành công trong cuộc sống.

Trân trọng!